dong ho


chuc tet

Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Untitled17.swf Nice.swf Vao_ha1.swf IMG_0077.jpg IMG_0042.jpg SAM_1151.jpg Mua_xuan4.swf Moi1.swf JNG04.jpg Untitled11.swf GRB09.jpg Untitled23.swf Untitled6.swf Gsinh2.swf Images1052901_chinh_chu_02.jpg Untitled113.swf 1_net_xien_xo_thanh_dam.swf 1_net_xien_xo_thanh_dam.swf

MÁY TÍNH

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (CUNGUYEN78)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TIN MỚI NHẬN

    CHÀO MỪNG CÁC THẦY CÔ GIÁO ĐẾN VỚI website CỦA NGUYỄN VĂN CỰ








    CHÀO MỪNG NGÀY LỄ LỚN

    MỪNG NĂM HỌC MỚI 2022-2023
    Gốc > Bài viết >

    HỒ CHÍ MINH VÀ CÔNG CUỘC GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC

    CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI ĐẦU TIÊN CHẤM DỨT KHỦNG HOẢNG ĐƯỜNG LỐI CỨU NƯỚC CỦA VIỆT NAM

    CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI ĐẦU TIÊN CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG ĐƯỜNG LỐI CỨU NƯỚC KÉO DÀI GẦN 100 NĂM CỦA VIỆT NAM

    1. Vua Gia Long là người đầu tiên đã thống nhất Việt Nam sau hơn 2000 năm bị chia cắt. Đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn, nhưng Gia Long (1802 - 1820), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) đều là những người biết giương cao ngọn cờ Phật giáo để thu phục nhân tâm với ý thức dân tộc cao, dù chưa được lòng dân thì độc lập nước ta vẫn được giữ vững. Vua Tự Đức (1848 - 1882) là người không thích làm vua chỉ thích làm thơ, sao nhãng việc nước, lại thi hành những chính sách không phù hợp với tình thế làm cho đời sống của nhân dân, trước hết là nông dân trở nên rất cơ cực. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn vua quan nhà Nguyễn trở nên hết sức gay gắt. Đất nước Việt Nam vì thế đã nhanh chóng bị thực dân Pháp xâm lược. Kể từ đây Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm.

    Từ tháng 7 năm Mậu Ngọ (31-7-1858), tư bản Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam. Sau khi đánh chiếm Gia Định, buộc triều đình nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (1862), lấy nốt ba tỉnh miền Tây (1887), thôn tính xong các tỉnh Nam Kỳ (1873), chúng bắt đầu đánh chiếm Hà Nội. Ngày 6-6-1884, thực dân Pháp buộc triều đình Huế phải ký hiệp ước Patơnốt, tước hết quyền dân tộc, dân sinh và dân quyền của Việt Nam.

    Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Vua, quan Việt Nam chỉ đóng vai trò bù nhìn. “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm, xẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “liên bang” gọi là Liên bang Đông Dương”[1].

    Về văn hoá, chúng thi hành chính sách ngu dân hòng nô dịch nhân dân ta trong vòng ngu tối. Các quyền tự do đều bị cấm. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnh viện. Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới, kể cả văn hoá tiến bộ Pháp dội vào Việt Nam, nhưng lại khuyến khích văn hoá đồi truỵ, mê tín dị đoan...

    Về kinh tế, tư bản Pháp không phát triển công nghiệp nặng mà chỉ mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp. Chính sách độc quyền kinh tế của thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân bằng thuế khoá nặng nề và nhân công rẻ mạt của chính quốc.

    Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng khắp nơi từ Nam chí Bắc thực dân Pháp đã vấp phải ý chí chống xâm lược kiên cường của nhân dân ta. Giặc Pháp phải mất gần 30 năm (1858 -1884) mới chiếm được nước ta. Nhưng, chưa đầy một năm sau hiệp ước Patơnốt, vua Tự Đức chết, Hàm Nghi lên nối ngôi (1885) đã cùng với Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ra mật lệnh cho quân dân các địa phương không được hợp tác với Pháp. Năm 1886, Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, lập căn cứ kháng chiến ở Tân Sở (Quảng Trị) và hạ Chiếu Cần vương cứu quốc. Tuy lòng yêu nước và dũng cảm có thừa nhưng tất cả những phong trào yêu nước của Việt Nam giai đoạn này cuối cùng đều thất bại.

    Việc duy trì chế độ phong kiến để bóc lột bằng địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề của thực dân Pháp khiến các mâu thuẫn xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu sắc, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng hoá nhân dân Việt Nam.

    Nông dân là lực lượng đông đảo, yêu nước, là chỗ dựa của các cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc trong lịch sử. Nhưng, khi đối đầu với một kẻ thù mới - tư bản phương Tây - họ không thể vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng.

    Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ khoảng hơn 10 vạn người và trình độ tập trung còn thấp, phần lớn là công nhân các đồn điền cao su và khai thác mỏ than. Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai của đế quốc Pháp (1924 - 1929) số công nhân chuyên nghiệp đã có tới 22 vạn người, nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước năm 1930 có đến hàng triệu người.

    Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản bản xứ. Phần lớn họ xuất thân từ nông dân, có quan hệ ruột thịt, gia đình với nông dân. Đó là cơ sở khách quan thuận lợi làm cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc.

    Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, chưa có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa công đoàn và chủ nghĩa cải lương thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong, do vậy, tuy còn trẻ, số lượng còn ít, trình độ khoa học và kỹ thuật còn thấp,.. nhưng giai cấp công nhân ở Việt Nam là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất, sống tương đối tập trung, có ý thức tổ chức kỷ luật, có năng lực cách mạng triệt để và có tinh thần quốc tế vô sản.

    Là con đẻ của một dân tộc anh hùng, lớn lên trong hoàn cảnh giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bônsêvích đã giành được chính quyền, Quốc tế cộng sản đã thành lập, lại được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục và lãnh đạo, giai cấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp đã từng bước phát triển từ tự phát sang tự giác.

    Đánh giá thực trạng xã hội nói trên, Nguyễn Ái Quốc đã có một phát hiện độc đáo: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”[2].

    2. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có những biến đổi lớn: Phương Đông đã thức tỉnh; Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Quốc tế Cộng sản đã được thành lập; Các Đảng cộng sản đã lần lượt ra đời ở một số nước châu Âu và châu Á...

    Ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã hoạt động trong phong trào công nhân và lao động một số nước trên thế giới, đến với nhân dân cần lao ở các nước thuộc địa học tập, nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các thể chế chính trị, tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

    Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị khi chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc đã là một lực lượng quốc tế. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XXkhông còn là sự đấu tranh của một nước này chống sự xâm lược của một nước kia nữa, mà đã là cuộc đấu tranh của chung các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế.

    Trong điều kiện lịch sử mới, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nếu chỉ tiến hành riêng rẽ ở từng nước thì không thể đi đến thắng lợi. Sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đều thất bại, không phải vì nhân dân ta thiếu anh hùng, các lãnh tụ thiếu nhiệt huyết cách mạng, mà vì các lãnh tụ đã không nhận thấy được đặc điểm của thời đại, nên chỉ tự nổi dậy như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, hoặc đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện như Phan Bội Châu.

    Khi còn trong nước, Nguyễn Tất Thành chưa nhận thức được đặc điểm ấy của thời đại. Nhưng từ thực tế lịch sử, Người thấy rõ con đường của các bậc cha anh là không đem lại kết quả, vì vậy Người phải ra đi tìm con đường mới cứu nước. Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục, đặt chân lên khoảng 30 nước, trở thành một trong những nhà hoạt động chính trị đã đi nhiều nhất, có vốn hiểu biết phong phú nhất về các nước thuộc địa và các nước tư bản đế quốc chủ yếu nhất trong nửa đầu thế kỷ XX. Nhờ đó, Người đã hiểu rõ được bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc, màu sắc riêng của từng nước đế quốc; đã hiểu được trình độ phát triển của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ; v.v...

    Khoảng cuối 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh đến sống và hoạt động tại Pari, một trung tâm văn hóa, khoa học và chính trị của châu Âu. Ở đây, nhờ lăn lộn trong phong trào lao động Pháp, sát cánh với những người yêu nước Việt Nam và những người cách mạng từ các nước thuộc địa khác của Pháp, mà Nguyễn Tất Thành đã nhanh chóng gia nhập Đảng Xã hội Pháp, chính đảng duy nhất của Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa, rồi trở thành một chiến sỹ xã hội chủ nghĩa.

    Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc nhân danh những người Việt Nam yêu nước, gửi tới Hội nghị Vécxây (Hội nghị Hòa Bình) bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho Việt Nam. Bản yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra được bài học: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình. Nhưng lúc này, Người vẫn chưa ý thức được đầy đủ về con đường giải phóng dân tộc phải gắn liền với hai tác động quyết định là cách mạng Tháng Mười và Quốc tế III, vì sự tác động của hai sự kiện này đã bị bưng bít bởi báo chí tư sản Pháp.

    Từ 1920, ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười lan rộng ra khắp thế giới, làm cho sự phân liệt trong nội bộ các Đảng Dân chủ Xã hội (Quốc tế II) thêm sâu sắc và toàn diện khắp các vấn đề cơ bản: Đấu tranh giải phóng, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế, trong đó có vấn đề dân tộc thuộc địa. Là một đảng viên tích cực của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc không đứng ngoài cuộc tranh luận ấy. Trước khi tiếp cận với Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã sơ bộ đi đến kết luận: Chủ nghĩa tư bản, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công; người lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đầy đọa, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[3].

    Từ nhận thức về quan hệ áp bức dân tộc, Người đã đi tới nhận thức về quan hệ áp bức giai cấp, từ quyền của các dân tộc, Người đi đến quyền của con người, trước hết là của những người lao động. Từ xác định rõ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, Người đã thấy được bạn đồng minh là nhân dân lao động ở các nước chính quốc và thuộc địa. Chính thế, khi đọc Luận cương của Lênin, Người đã mững rỡ đến trào nước mắt, đã reo lên như tìm ra được một phát kiến vĩ đại. Chính Luận cương của Lênin đã giúp Người tìm ra con đường chân chính cứu nước, cứu dân.

    Đêm kết thúc Đại hội Tua (30-12-1920), đánh dấu  bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc, đồng thời mở ra bước ngoặt mới cho bao thế hệ của người cách mạng Việt Nam: Từ người yêu nước thành người cộng sản.

    Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam, đến với bối cảnh mới của thế giới - Chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa; Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), “Thức tỉnh của các dân tộc châu Á”, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại; Quốc tế III được thành lập (1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc – đồng thời với những phẩm chất cách mạng đặc biệt của Người, là những tiền đề trực tiếp tạo nên vĩ nhân-lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam và nhân loại - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    3. Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược đến những năm hai mươi của thế kỷ XX đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp. Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi, không phải vì nhân dân Việt Nam thiếu ý chí giành độc lập, mà còn thiếu tri thức làm nền tảng tư tưởng cho việc ra đời một đường lối cách mạng đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước của Việt Nam kéo dài gần 100 năm.

    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giai cấp phong kiến Việt Nam đã bạc nhược không thể đảm đương sứ mệnh lịch sử dân tộc Việt Nam. Thất bại của phong trào Cần vương là đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ hệ tư tưởng phong kiến.

    Ý thức hệ của giai cấp tư sản phương Tây đã xâm nhập vào Việt Nam. Một số sĩ phu tiến bộ tiếp thu trào lưu tư tưởng này đã nảy ra khuynh hướng mong muốn nước mạnh, dân giàu theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ muốn noi theo con đường phát triển của đế quốc Nhật, dựa vào Nhật để đánh Pháp. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập với mục đích cổ động phong trào, tổ chức lực lượng chống Pháp. Số khác như các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền,.. mở trường Đông kinh nghĩa thục ở Hà Nội nhằm vào việc cổ động yêu nước, bài xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích cải cách, chế giễu hủ nho, cường hào, v.v. Là một người chân thành yêu nước nhưng chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh tiêu biểu cho phái cải cách dân chủ tư sản (1789) phản đối việc vũ trang bạo động chống Pháp bất bạo động, “bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại tất vong”. Thất bại của khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học lãnh đạo đã chứng minh giai cấp tư sản Việt Nam không đủ sức đảm dương sứ mệnh lịch sử dân tộc.

    Phong trào yêu nước, khởi nghĩa vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nổ ra rầm rộ và rộng khắp nước nhưng đề thất bại không phải vì dân ta thiếu tinh thần cách mạng, các lãnh tụ của ta thiếu nhiệt huyết cách mạng, mà chính là cách mạng Việt Việt Nam thiếu con đường cách mạng khoa học như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận xét: làm cách mạng mà như cụ Phan Bội Châu thì có khác chi đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau, làm cách mạng mà như cụ Phan Châu Trinh thì có khác chi kêu gọi kẻ thù rủ lòng thương đối với ta đâu.

    Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho tổ chức những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình ở Pháp (tháng 6 - 1919); Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp ở Thành phố Tua, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Hội nông dân Quốc tế (tháng 10 - 1923). Năm 1924, Người dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (1924) và các Đại hội quốc tế khác trên đất nước Lênin mà báo chí của đế quốc Pháp đã đưa tin, theo dõi để tìm bắt Nguyễn Ái Quốc. Chính những điều đó đã âm thầm cổ vũ phong trào yêu nước Việt Nam.

    Tháng 4-1921, trên tạp chí của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết: “Không người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng, của người Đông Dương... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”[4].

    Đúng như nhận xét của Người, từ những năm 1920 trở đi, phong trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Bên cạnh những hội, đảng cách mạng mang xu hướng tư tưởng tư sản đã xuất hiện những tổ chức yêu nước lúc đầu chịu ảnh hưởng tư tưởng tư sản nhưng đã từng bước tự đổi mới để tiếp thu tư tưởng tiến bộ mới. Đặc biệt, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu xâm nhập vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam.

    Nguyễn Ái Quốc sáng lập “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” (Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Từ 1925-1927, thông qua các bài giảng, bài nói tại các lớp đào luyện thanh, thiếu niên ưu tú của Việt Nam tại Trung Quốc (được tập hợp thành tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản tại Trung Quốc năm 1927), Người là người đầu tiên đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin một cách có hệ thống và có tổ chức vào Việt Nam, làm cho phong trào vô sản ở Việt Nam phát triển rộng khắp nước. Giữa năm 1929 ở Việt Nam đã có ba Đảng Cộng sản ra đời ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, nhưng ba Đảng này chưa đoàn kết được với nhau, nên cách mạng Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng. Khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc Việt Nam kéo dài gần 100 năm. Con đường cứu nước do Người vạch ra là muốn cứu nước, cứu dân thì không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Cách thức tiến hành cách mạng vô sản ở Việt Nam do Người lựa chọn là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tuân thủ di huấn của Lênin.

    Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác ngày càng rạng rỡ hơn: Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Đại thắng mùa Xuân 1975, Thắng lợi của Công cuộc đổi mới hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo và thực hiện mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nạm

    Mừng thắng lợi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và Kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta, Dân tộc ta nguyện mãi mãi kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng của tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ của dân tộc và trí tuệ của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ, yêu chuông hòa bình của thế giới.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Cự @ 08:52 28/04/2011
    Số lượt xem: 274
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    kỉ niệm ngày lễ

    SẮP ĐẾN NGÀY 20-11 CHÚC TOÀN THỂ THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH TRÀN ĐẦY HẠNH PHÚC [/marquee]

    BẤM VÀO ĐÔI CHIM ĐỂ TRỞ VỀ ĐẦU TRANG